NẾU SUY THOÁI KINH TẾ XẢY RA ?

Sau dự báo cập nhật của một số tổ chức kinh tế có ảnh hưởng lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các quyết định của Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) thì nỗi lo về một cuộc suy thoái của nền kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới ngày càng rộng lớn. Những dấu hiệu nào sẽ là cảnh báo và chúng ta cần chuẩn bị gì?

Những cơ sở của nỗi lo suy thoái

Cuộc chiến tranh Nga-Ukraine đã làm tan biến hy vọng kinh tế phục hồi sau đại dịch Covid-19: giá nhiều loại hàng hóa (commodities) tăng mạnh, đặc biệt là năng lượng, đã thổi bùng lạm phát ở hầu hết các nền kinh tế. Nhiều ngân hàng trung ương đã và sẽ sớm tăng lãi suất với hy vọng hạ nhiệt lạm phát như Mỹ, châu Âu, Anh, Thụy Sỹ, Úc, Canada, New Zealand, và nhiều nước đang phát triển khác.

Riêng với Mỹ, lần gần đây nhất là ngày 15-6 đã tăng lãi suất lên 0,75%, và mức lãi suất đến cuối năm 2022 được nhiều dự đoán từ 18 thành viên của Fed là 3,4%. Lãi suất tăng không chỉ lớn về số tuyệt đối mà còn lớn về tỷ lệ khi nền xuất phát của lãi suất ở mức thấp. Ví dụ như lãi suất EFFR (effective federal funds rate) từ 0,83% tăng lên 1,58% thì tỷ lệ tăng lên đến 90%.

Có lẽ thấy được rằng lạm phát sẽ tăng mạnh, và chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn chưa thể phục hồi khi Trung Quốc vẫn kiên định với mục tiêu kiểm soát chặt Covid nên các cập nhật dự báo kinh tế thế giới đều cho rằng GDP của thế giới năm nay sẽ giảm còn ở mức 2,9-3% thay vì khoảng 4% như dự báo lúc đầu năm.

Nhưng suy thoái kinh tế không chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng của GDP bị giảm mà còn nhiều yếu tố khác như các chỉ số sản xuất, hàng tồn kho, biên lợi nhuận của doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp, tín dụng, thu nhập nội địa (GDI), chỉ số tin tưởng của người tiêu dùng (consumer confidence), và nhận định của các nhà quản lý, các nhà kinh tế.

Theo một khảo sát vừa mới công bố của tờ báo Wall Street với một nhóm 53 nhà kinh tế thì kết quả cho thấy xác suất xảy ra suy thoái trong vòng 12 tháng lên đến 44%, trong khi con số này ở tháng 4 và tháng 1 lần lượt là 28% và 18%. Trước đây vào tháng 12/2007 tức là khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu, thì xác suất xảy ra được dự đoán là 38%.

Dự báo tăng trưởng GDP của một số nền kinh tế

 

 

2021e

2022f

2023f

WB

Thế giới

5,7

2,9

3,0

Mỹ

5,7

2,5

2,4

Euro zone

5,4

2,5

1,9

Nhật Bản

1,7

1,7

1,3

Trung Quốc

8,1

4,3

5,2

OECD

Thế giới

5,8

3,0

2,8

Mỹ

5,7

2,5

1,2

Euro zone

5,3

2,6

1,6

Nhật Bản

1,7

1,7

1,8

Trung Quốc

8,1

4,4

4,9

   Nguồn: WB và OECD, báo cáo tháng 6/2022

Thích Ứng với Lạm Phát

Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu vừa mới được công bố của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy viễn cảnh khá u ám với tăng trưởng chậm lại và sức ép lớn của lạm phát. Những tháng vừa qua, nhiều nền kinh tế đã trải qua mức lạm phát kỷ lục, lặp lại lịch sử sau hàng chục năm. Ảnh hưởng của lạm phát đến đời sống của tầng lớp có thu nhập thấp và vừa là lớn nhất, dù ở nước giàu hay nghèo.

Choáng với giá cả đi lên thang máy

Mặc dù số liệu thống kê chính thức của chính phủ Pháp cho thấy lạm phát tháng 5/2022 là 5,2%, tháng 4/2022 là 4,8%, và tháng 3/2022 là 4,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng giá của nhiều mặt hàng đã tăng đến mức gây rát túi tiền của người dân. Trong số này, phải kể đến nhóm xăng dầu, thực phẩm, và những mặt hàng có liên quan đến nhập khẩu từ châu Á.

Cuộc Đua Lãi Suất Giữa Các Ngân Hàng … Trung Ương

Dưới sức ép của lạm phát, nhiều Ngân Hàng Trung Ương trên thế giới đã phải tăng lãi suất và dường như thị trường đang chứng kiến một cuộc đua. Hiệu quả chống lạm phát của việc tăng lãi suất vẫn còn chưa rõ ràng nhưng đằng sau việc tăng lãi suất của một số nền kinh tế lớn là những thay đổi về tỷ giá, dòng vốn, và thương mại quốc tế.

Cuộc đua lãi suất

Quốc Gia

Ngày

Mức tăng (bps)

Thụy Sỹ

16/6

50

Anh

16/6

25

Mỹ

15/6

75

Úc

7/6

50

Canada

1/6

50

New Zealand

25/5

50

Nguồn: Reuters

Dám Nhìn Thẳng Vào Cổ Phần Hóa Và Thoái Vốn Nhà Nước

Tại Hội thảo được tổ chức ngày 17/5/2022 vừa qua ở Bộ Tài chính về cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nhiều vấn đề lại được xới lên. Tuy vậy, các vấn đề hầu như chỉ tập trung ở phần ngọn mà chưa đặt trọng tâm vào những gốc rễ quan trọng. Các câu hỏi “tại sao” nên được đặt ra trước các câu hỏi “như thế nào”.

Tại sao phải cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước những doanh nghiệp có hiệu quả?

Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một chính sách quan trọng của Đảng và Chính phủ nhằm tối ưu hóa các nguồn lực kinh tế, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kinh tế, chính trị, và xã hội trong quá trình phát triển của đất nước.

Quá trình cổ phần hóa DNNN đã được đẩy mạnh trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020. Cùng với quá trình này là việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo Nghị định 91/2015/NĐ-CP và Nghị định 32/2018/NĐ-CP.

CÓ ĐỦ MẠNH ĐỂ LẤY LẠI LÒNG TIN ?

Sau những ngày giảm giá sốc khiến chỉ số VN-Index rơi vào vùng thị trường con gấu (bear market) thì Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) đã có một số động thái như yêu cầu công bố trở lại thông tin giao dịch tự doanh của các công ty chứng khoán, điều chỉnh cách tính giá thanh toán cuối cùng của hợp đồng tương lai chỉ số VN30, thực hiện giao dịch lô lẻ trong thời gian sắp tới. Cùng với đó là kế hoạch thanh tra của Bộ Tài chính đối với một số công ty chứng khoán, công ty kiểm toán. Trước đó, Chính phủ cũng đã gửi gắm thông điệp làm lành mạnh hóa thị trường, phát triển thị trường minh bạch và bền vững. Nhưng những điều này có trấn an được các nhà đầu tư cá nhân? Có đủ mạnh để giữ được niềm tin với thị trường?

Nuông chiều số ít

Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay có số tài khoản giao dịch gần như tuyệt đối thuộc về các tài khoản cá nhân. Tính đến cuối tháng 4/2022 thì số tài khoản cá nhân là 5,16 triệu tài khoản và chiếm đến 99,8% tổng số tài khoản giao dịch. Tuy vậy các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ luôn bị lép về trước các nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là bộ phận tự doanh của các công ty chứng khoán.

CÁC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÃ MỒ HÔI VÌ FED

Với ưu tiên hàng đầu là ổn định giá cả ở thời điểm này, Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) dự kiến sẽ tăng lãi suất thêm 0,5% mỗi lần trong 2 lần họp sắp tới. Nhưng khi nền kinh tế Mỹ phải chịu uống thuốc đắng thì các nền kinh tế khác, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi (emerging economies), cũng bị vã mồ hôi vì áp lực tăng lãi suất.

Đúng thuốc nhưng còn phải đúng liều, đúng thời điểm

Liều thuốc kinh điển mà các Ngân hàng Trung ương thường sử dụng để chống lại lạm phát là lãi suất. Nước Mỹ cũng đã có kinh nghiệm đau thương với lạm phát những năm 1970s và cái tên đi vào lịch sử là Paul Volcker, chủ tịch Fed lúc đó, đã dùng lãi suất với liều lượng mạnh để cắt cơn lạm phát 2 con số. Nhưng cái giá phải trả lúc đó là nền kinh tế rơi vào suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp lên trên 10%.

LUẬT TRÊN GIẤY

Cùng với những xử lý quyết liệt mới đây của các cơ quan quản lý Nhà nước trên thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chiều ngày 22/4 Chính phủ đã tổ chức Hội nghị phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững. Với quyết tâm cao làm lành mạnh thị trường, bảo vệ nhà đầu tư chân chính, và nâng hạng thị trường từ cận biên (frontier) lên mới nổi (emerging), kết quả sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các hành động hiện đưa các quy định vào thực tế.

Luật trên giấy (law in book) và luật trên thực tế (law in action)

Trong việc việc giám sát, quản lý, và bảo vệ các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường vốn nói chung, vấn đề mà rất nhiều nước đều gặp phải đó là hiệu quả của việc thực thi (enforcement) của các quy định pháp luật. Cụ thể ở đây là khoảng cách giữa những quy định trên giấy và thực tế áp dụng các quy định ấy.